Showing posts with label cừ thép. Show all posts
Showing posts with label cừ thép. Show all posts

SEA - Vietnam Steel Price & Market Updating


SE Asian billet import market quiet, direction unclear

Offer prices for Korean billet to Southeast Asia are prevailing at $620-630/tonne CFR, regional trading sources say. Most offers to Thailand and Philippines are prevailing at $630/t CFR. A Thai trader has heard of Korean 150 billet, albeit an unpopular size, offered at $620/t CFR Thailand.

Taiwanese billet is being offered at around $610/t CFR in the Philippines. “So especial customers are getting offers at $620/t CFR,” a trader in Manila reports. Korean billet at $620/t CFR with its 3% import duty advantage earns that it is $20/t lower cheaper when compared to billets of other origin imported into the Philippines.
The Korean and Taiwanese mills are generally offering their billet on FOB basis at $600-605/t and $595-600/t respectively, regional trading sources tell SBB. Russian billet offers are at $615-620/t CFR in the region, SBB is told. Suppliers are currently giving offers for next month's deliveries.
“It has been quiet this past week. So sellers think that the market is bottoming out and are holding back on offers. At the sales tie, buyers are not anxious to book material,” a regional trader says. Despite offer prices falling by $5-10/t since last week, most regional importers are not interested because they are aiming to book at $600/t CFR. So buyers are even expecting billet prices to fall to $580-590/t CFR.
Offers to Indonesia are at $630-635/t CFR for Korean material. No import deals are reported to have taken place, however. The dollar's recent strengthening against regional currencies has also dented buying interest. "The rupiah is weakening. This is contributing to importers' hesitation to book billet now," an Indonesian re-roller tells SBB.


Vietnamese apparent steel consumption dips 10.

Production of construction long products in Vietnam during October reached 358,000 tonnes, a fall of14.2% fro the previous month and a 19.4% decrease year-on-year, according to Vietnam Steel Association (VSA) data. Sales of longs in October at 327,000t dipped by 14.4% -o- and fell by a significant 27% y-o-y.
Cumulative production of longs during this year’s first ten months reached 4.1t, up 2.4% fro the corresponding period of 2010. Sales rose to 3.97 t, an increase of 1.5% over January-October last year.
“Apparent consumption of finished steel in January-October is estimated to have fallen by 10% year-on-year,” VSA vice-chairman and general secretary Dinh Huy Ta tells SBB. The volume of steel Vietnam imported during January-October dropped by around 1t y-o-y. “The fall in consumption of at steel is sharper than for longs. Exports of steel products rose too,” he adds.
Ta is not optimistic about the Vietnamese steel market this month because the slump in international markets – as well as the uncertain global economic landscape – has caused market players to adopt a
wait-and-see approach„
Policies implemented by the Hanoi government to rein in very high inflation, such as the setting of bank lending interest rates at nearly 20% and other credit-tightening measures, have dampened steel demand.Since inflation was 17.05% during the first ten months and is expected to reach 18% by year-end, these tight monetary and fiscal policies are expected to continue beyond this year.
The VSA tracks data fro its member steel ills that together contribute around 85% of Vietnam's long steel production.

Ứng dụng cọc ván thép trong thi công công trình thủy lợi



Trong những năm gần đây, nhiều công nghệ mới được ứng dụng vào lĩnh vực công trình nói chung và ngành thủy lợi nói riêng và đem lại hiệu quả cao về kinh tế, xã hội, kỹ thuật. Bài viết phân tích đánh giá việc ứng dụng cọc ván thép trong thi công các công trình thủy lợi, qua đó cho thấy tiềm năng to lớn của công nghệ này

Trước đây, các công trình ngăn sông được thi công theo công nghệ truyền thống. Dạng thi công này bao gồm các hình thức sau:

1. Thi công công trình trên bãi sông.
2. Xây dựng công trình ngay trên lòng sông dẫn qua kênh dẫn dòng được đào vòng qua khu vực thi công
3. Xây dựng từng phần ngay trên lòng sông, dẫn dòng qua phân sông còn lại.
Đối với các công trình xây dựng trên lòng sông, giữ khô hố móng là đê quay sang bằng đất đắp vây xung quanh hạng mục cần thi công. Công nghệ này thích hợp đối với các công trình xây dựng trên sông vừa và nhỏ, những nơi thuận tiện cho việc lấy đất và đắp đê quay sanh. Trong điều kiện sông rộng và sâu, những nơi dân cư đông đúc, điều kiện thi công chật hẹp thi công thép công nghệ truyền thống rất phức tạp và tốn kém, do vậy sử dụng cọc ván thép làm đê quay sanh là một giải pháp tối ưu.

Cọc ván thép được sử dụng làm khung vây để thi công các hạng mục công trình đã khẳng định được tính ưu việt, giải quyết được các vấn đề về kỹ thuật mà phương pháp thi công truyền thống không khắc phục được. Tuy nhiên, điều kiện ứng dụng và việc lựa chọn kết cấu khung vây là một vấn đề rất quan trọng quyết định đến an toàn thi công công trình và hiệu quả kinh tế của dự án. Mục tiêu của bài viết này là đưa ra một số đề xuất trong sử dụng cọc ván thép để thi công các công trình ngăn sông đồng bằng và ven biển.

Sử dụng cọc ván thép trong thi công công trình ngăn sông

Cọc ván thép được sử dụng khá phổ biến trong lĩnh vực giao thông để thi công các hạng mục hạ bộ công trình như bệ trụ cầu. Cọc ván được đóng liền nhau tạo thành vách đứng ngăn nước, giữ cho hố móng công trình được khô ráo trong suốt quá trình thi công. Trong lĩnh vực xây dựng công trình ngăn sông, cọc ván thép cũng được sử dụng với vai trò như đê quay trong công nghệ truyền thống. Khung vây cọc ván thép giữ cho hố móng luôn khô ráo, tạo điều kiện cho việc thi công các hạng mục công trình dưới lòng sông. Khung vây cọc ván thép phù hợp cho thi công các công trình trên lòng sông sâu mực nước thường lớn hơn 3m, nền công trình có hệ số thấm cao hoặc nơi có hiện tượng cát chảy. Kết cấu khung vây cọc ván thép trong xcây dựng công trình ngăn sông có 2 dạng chính. Khung vây một hàng cọc ván thép và khung vây hai hàng cọc ván thép.


Khung vây một hàng cọc ván thép

Kết cấu khung vây một hàng cọc ván thép được sử dụng khi móng hạng mục công trình hẹp. Kết cấu khung vây gồm các cọc ván thép đóng xỏ me kín khít với nhau đóng sâu vào đất nền. Chiều sâu cắm vào nền khoảng ½ chiều sâu cột nước. Các cọc ván thép được giữ ổn định bằng các tầng khung chống trong. Đối với khung vây dạng này thường phải đổ bê tông vữa dâng phản áp trong nước. Lớp bê tông này có tác dụng chống chân khung vây và chống đẩy trồi đất vào trong hố móng. Áp lực nước tác dụng lên cọc ván thép thông qua hệ khung chống trong này sẽ triệt tiêu nhau. Số lượng và khoảng cách giữa các tầng khung chống phụ thuộc vào độ cứng của loại cọc ván thép và kết cấu dầm chống trong. Thông thường từ 3 đến 4m, càng xuống sâu, khoảng cách giữa các tầng khung chống càng nhỏ.

Khung vây một hàng cọc ván thép chỉ nên sử dụng khi kích thước một trong hai chiều dài hoặc rộng của hạng mục thi công không quá 25m. Với kích thước lớn hơn thì kết cấu của khung chống trong thường mất ổn định, không đảm bảo an toàn cho thi công công trình. Lúc này nên sử dụng khung vây hai hàng cọc ván thép.


Khung vây hai hàng cọc ván thép

Khung vây hai hàng cọc ván thép được sử dụng khi thi công các hạng mục dưới lòng sông có diện tích rộng, kích thước hai chiều đều lớn. Kết cấu khung vây hai hàng cọc ván thép gồm hai vòng vây cọc ván thép xỏ me với nhau và đóng sâu vào đất nền, chiều sâu ngập trong đất khoảng ½ chiều sâu cột nước. Giữa hai hàng cọc ván thép là đất hoặc cát. Khoảng cách giữa hai hàng cọc ván thép phụ thuộc vào chiều sâu cột nước, thường chọn khoảng cách giữa hai hàng cọc ván thép là 0.8 lần chiều sâu cột nước.

Khung vây dạng này ổn định nhờ vào các thanh giằng néo và khối đất đắp giữa hai hàng cọc ván thép. Do các cọc ván thép được xảm và tự kín nước với nhau nên khối đất đắp trong khung vây nên chọn loại có góc ma sát lớn như cát hoặc đất pha cát để tăng ổn định và dễ dàng thi công bằng tàu hút.

Một số ứng dụng cọc ván thép trong thi công công trình ngăn sông:

Trong những năm gần đây, Viện Khoa học Thủy lợi đã ứng dụng cọc ván thép trong thi công cho một số công trình ngăn sông như đập Sông Cui - Long An, đập Thảo Long - Thừa Thiên Huế, cống Đò Điểm - Hà Tĩnh.

Đập Sông Cui gồm 2 khoang x 8m, cột nước sâu 6m, kết cấu dạng đập trụ đỡ, được thi công bằng khung vây một hàng cọc ván thép, đây là công trình thử nghiệm về kết cấu và biện pháp thi công. Giá thành xây dựng được đánh giá là ngang bằng với thi công theo công nghệ truyền thống nhưng thời gian lâu hơn.

Đập Thảo Long trên sông Hương gồm 15 khoang x 31.5m + 8m âu thuyền được thiết kế theo công nghệ đập trụ đỡ và thi công trong khung vây của một hàng cọc ván thép, công trình đã hoàn thành và đưa vào sử dụng. Việc sử dụng cọc ván thép để thi công đã giảm đáng kể chi phí xây dựng và quan trọng hơn là không phải đắp đê quay đất với khối lượng rất lớn ảnh hưởng tới tiêu thoát lũ trong thời gian thi công.

Cống Đò Điểm trên sông Nghèn gồm 12 khoang cửa tự động 8m, 4 khoang cửa ván cung 16m và 8m âu thuyền. Công trình được chia làm 5 phân đoạn, mỗi phân đoạn có kích thước 38.5m x 40m được thi công trong khung vây hai hàng cọc ván thép. Hiện nay đã thi công được 4 phân đoạn. Nếu thi công theo công nghệ truyền thống thì rất phức tạp và tốn kém vì sông sâu, dẫn dòng khó khăn và gây ngập lụt trong mùa mưa lũ.

Kết luận

Cùng với ứng dụng công nghệ mới trong kết cấu công trình thì thay đổi công nghệ thi công là cần thiết và phù hợp với khoa học tiến bộ hiện tại. Khung vây cọc ván thép là một trong những tiến bộ khoa học cần nghiên cứu ứng dụng rộng rãi trong xây dựng công trình thủy lợi bởi tính ưu việt của nó. Tuy nhiên không phải ở tất cả mọi điều kiện cọc ván thép đều phát huy hiệu quả cao hơn so với công nghệ truyền thống. Khung vây cọc ván thép sẽ có ưu thế hơn với những công trình xây dựng trên sông rộng và sâu, những nơi mặt bằng thi công chật hẹp, khó khăn về công tác giải phóng mặt bằng và những khu vực nền có hệ số thấm lớn, có hiện tượng cát chảy.

Tài liệu tham khảo
1. Execution of special geotechnical work. Sheet pile walls - European standard, June 1997.
2. http://www. Orientalsheetpiling.com/profile.asp.
3. Lê Văn Thông, Hotoshi Tanaka, Đăng Hải, Yoshihiko Taira - Cầu Kiền – Công trình cầu dây văng bê tông dự ứng lực ứng dụng công nghệ lắp hẫng các khối dầm hộp. Prestressed concrete Vol.46-No1, 2004 Japan.
Tác giả: TS. Nguyễn Văn Bản
Viện Khoa học Thủy lợi
Nguồn: Đặc san KHCN Thủy lợi

Sales of Vietnam construction longs fall in Sep


Sales of construction long products in Vietnam during September reached 382,000 tonnes, a fall of 21% from the previous month but an increase of 34.5% year-on-year, according to Vietnam Steel Association(VSA) data. Production of longs in September at 417,000t was lower by 4.9% m-o-m but higher by 2.5% y-o-y.

Consequently, cumulative sales of longs during this year’s .rst nine months reached 3.65m t, up 5.2%from corresponding period of 2010. Production rose to 3.74m t, an increase of 5.1% over January-September last year.

“Sales for September fell because of the rainy season and because of flooding in the Mekong Delta region,” VSA vice-chairman and general secretary Dinh Huy Tam tells SBB.September sales could also have been dragged down because sales during the previous month (August)were strong at 483,000t, he notes.
Macroeconomic policies implemented to rein in inflation – particularly those keeping bank lending interest rates high and restricting credit financing – have dampened steel demand.

“Apparent steel consumption could fall by 8-10% this year,” Tam says. Steel imports into Vietnam,particularly of .at steel products, have fallen sharply this year because of the slowdown in the electrical appliance, white goods and shipbuilding/ship repair sectors among others, he adds.
The VSA tracks data from its member steel mills that together contribute around 85% of Vietnam's long steel production.
Source: SBB Daily

Credit squeeze dampens bar/rod demand in Vietnam

Sales of construction long products in Vietnam in June amounted to 298,000 tonnes, a fall of 23.5% from the previous month and also down 16.1% year-on-year, according to the Vietnam Steel Association(VSA)”Production of longs in June at 347,000 t was down by 20.8% m-o-m but up by 9.9% y-o-y”

Tighter monetary and fiscal policies being undertaken by Hanoi to rein in inflation are the main reasons for the fall in June’s steel figures, VSA vice-chairman and general-secretary Dinh Huy Tam tells Steel Business Briefing. "These policies are affecting steel demand more so than the current rainy season", he says

Sales of longs during the first six months of this year reached 2.42m t, up nearly 12% compared with January-June 2010. Production rose to 2.58m t, an increase of 14.8% over the corresponding period last year”

Tam describes these cumulative figures as “not too bad," but cautions that the situation this year is "tougher than the Asian financial crises”. He explains that ongoing measures such as high bank interest rates exceeding 20% per annum, difficulties faced by enterprises in obtaining loans, and a slowdown in investment spending have had a negative impact on steel consumption. GDP growth for 2011 is expected. to dip below the target of 7-7.5% set by the Vietnamese authorities at the beginning of this year", he adds.

The VSA tracks data from its member steel mills that together contribute around 85% of Vietnam's long steel production”

Hot rolled coil prices decline further in Korea

Continuing soft domestic demand has led spot prices of hot rolled coil in Korea to weaken further this week”

Retail prices of 3mm SS400 commodity grade HRC sourced from domestic mills were pegged at KRW890,000-910,000/tonne ($833-852/t) on Monday, down KRW 10,000-20,000/t ($9-18/t) from a week earlier” Some materials were being offered for as low as KRW 860,000-870,000/t”

Weak buying interest from end-users including pipe makers has led local dealers to reduce their offer prices. But high HRC inventory levels at customers' yards – and market sloth ahead of Korea’s approaching summer holidays – are unlikely to help boost their sales at present, Steel Business Briefing notes”

Spot prices for China-origin commodity grade HRC have declined too, by KRW20-30,000/t to KRW 800 - 820,000/t ($749-768/t) this week”

Another reason behind the soft HRC prices could be Hyundai Steel, which has ramped up HRC output using feeds from its two new 4m t/y blast furnaces, an industry source charges. Hyundai sold some 950,000 tonnes of HRC during May-June in Korea’s home market while Posco supplied only 719,000 t during the same period", it adds.

“The HRC market is dull for the moment," a source in Seoul admits to SBB. "Many buyers have adopted wait-and-see attitude as most have high stock levels." He adds that at the earliest HRC buyers may start replenishing their inventories from next month”

Nippon Steel deepens H-beam production cut

In a tacit admission that its production cuts have been insufficient to reduce stocks, Nippon Steel has decided to halt production on section mills at its Kimitsu works near Tokyo and its Sakai works in Osaka beyond their scheduled maintenance stoppages.

The steelmaker had earlier decided to bring forward 2-3 week stoppages for regular maintenance at its works to the July-September quarter from the initially planned October-December period, as Steel Business Briefing reported. But after it learned that H-beam stocks at end-June had again increased month-on-month, it decided to schedule an additional week of stoppages at both mills from late July”

“Stopping the mills is a direct way to decrease stocks,” a Nippon Steel spokesman noted. He was talking Tuesday after Nippon Steel announced that H-beam stocks held by its ‘Tokiwakai’ grouping of stockists at end-June had increased by 4.7% or 9,600 tonnes from end-May to 215,400 t. This took the stock ratio to 2.73 months or well above the 2-month level Nippon Steel considers “adequate”

Sections demand from small-scale construction projects is increasing but this small demand does not help to lift total delivery volumes, it admits. Regarding pricing, Nippon Steel says cutting stocks and improving market conditions are its priority so will hold H-beam prices for July contracts (unchanged from April).

Nippon Steel does not reveal its prices, but SBB believes its senior-sized beams are at around ¥100,000/t($1,250/t). This is way above prevailing Tokyo market levels of ¥78,000-80,000/t and those by rival Tokyo Steel Manufacturing at ¥76,000/t. “Nippon Steel’s high price is just like asking distributors to not buy,” Tokyo-based distributor remarked.

Source: SBB